Banner Home
CreateChildControls_Exception: Object reference not set to an instance of an object.
ba kỳ
HCM
B2B
Thương hiệu Táo Ninh Thuận
du lich
 

Dự thảo Báo cáo Đại hội Hội Nông dân Tỉnh nhiệm kỳ 2018 - 2023

Kính gửi: Ban Thường vụ Hội Nông dân các huyện, thành phố. V/v góp ý nội dung Văn kiện Đại hội đại biểu Hội Nông dân tỉnh lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2018 - 2023

 

 

HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM

BCH HND TỈNH NINH THUẬN

*

Báo cáo Đại hội Hội Nông dân Tỉnh nhiệm kỳ 2018 - 2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 
 

 

 

 

 

 

 


Ninh Thuận, ngày  23  tháng  3  năm 2018

(DỰ THẢO)

BÁO CÁO

 

 

 

 

 

 

Của Ban Chấp hành Hội Nông dân tỉnh khóa VII

 

trình Đại hội Đại biểu Hội Nông dân  tỉnh lần thứ VIII

 

 

 

NỘI DUNG DỰ THẢO VĂN KIỆN

GÓP Ý, BỔ SUNG, CHỈNH SỬA

Đại hội đại biểu Hội Nông dân tỉnh lần thứ VIII, diễn ra trong thời điểm đất nước ta sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới; 25 năm tái lập tỉnh. Kinh tế, chính trị, xã hội và quốc phòng - an ninh đạt được những kết quả có ý nghĩa quan trọng góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội XIII Đảng bộ tỉnh, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại và hội nhập kinh tế thế giới.

          Đại hội có nhiệm vụ đánh giá tổng kết công tác Hội và phong trào nông dân nhiệm kỳ VII (2013-2018), đề ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ; giải pháp công tác xây dựng Hội và phong trào nông dân nhiệm kỳ VIII (2018-2023). Với tinh thần: “Đổi mới mạnh mẽ hoạt động, xây dựng tổ chức Hội vững mạnh toàn diện; nâng cao vai trò, trách nhiệm của giai cấp nông dân trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và hội nhập quốc tế”

Đại hội với chủ đề : “Đoàn kết - Đổi mới - Hội nhập - Phát triển bền vững”.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phần thứ nhất

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI VII

HỘI NÔNG DÂN TỈNH

 

 

 

 A- TÌNH HÌNH NÔNG NGHIỆP, NÔNG DÂN, NÔNG THÔN

1- Tình hình sản xuất nông nghiệp

Năm năm qua, thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới và trong nước có nhiều thuận lợi, khó khăn thách thức đan xen, hạn hán kéo dài đã ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp; được  sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, đầu tư của Nhà nước; các Bộ ngành Trung ương quan tâm đầu tư hệ thống thuỷ lợi; chuyển giao và ứng dụng tiến bộ Khoa học kỹ thuật (KHKT), chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp theo hướng thích ứng với biến đổi khí hậu … Giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và thủy sản tăng bình quân hàng năm 7,6%/năm (kế hoạch 6-7%) chiếm 38,35% GRDP của tỉnh. GRDP bình quân đầu người đạt 33,1 triệu đồng/người (năm 2017) tăng 40,85% so năm 2013; Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp - xây dựng và dịch vụ còn chậm. Giá trị ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn chiếm tỷ trọng cao.

Các cấp Hội tập trung vận động nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, ứng dụng KHKT vào sản xuất có hiệu quả gắn với tiết kiệm nước, được triển khai nhân rộng; bước đầu đưa công nghệ cao vào sản xuất, tăng năng suất chất lượng, hiệu quả kinh tế, tăng thu nhập góp phần xây dựng nông thôn mới. Giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 115 triệu đồng/ha tăng 65 triệu so với năm 2013; hình thành các vùng chuyên canh và sản xuất hàng hoá như cách đồng mẫu lớn, vùng trồng Măng tây xanh, Nho, táo….

Chăn nuôi tiếp tục phát triển theo hướng tập trung gắn với kinh tế trang trại, gia trại. Tổng đàn gia súc 507.426 con, tăng 37,66% so với năm 2013, trong đó đàn trâu, bò 116,304 con, đàn dê cừu 298.900 con; đàn lợn 92.227 con; đàn gia cầm 1,446 triệu con. Công tác phòng chống dịch bệnh trên cây trồng và vật nuôi được quan tâm thực hiện tốt, không để dịch bệnh bùng phát lây lan.

Công tác khoanh nuôi và bảo vệ rừng được nông dân hưởng ứng thực hiện, tổng diện tích khoanh nuôi 1.539ha, nhận khoán bảo vệ hơn 65.781 ha và trồng mới 801,7ha góp phần nâng cao đời sống cho bà con nông dân vùng đồng bào, công tác bảo vệ rừng và phòng cháy được chú trọng.

Về thủy sản toàn tỉnh có trên 2.771 chiếc/345.129CV, đóng mới 41 tàu theo Nghị định 67 và 89 của Chính phủ, trong đó có 38 chiếc trên 700CV; Sản lượng khai thác tăng 17,9% so với cùng kỳ (năm 2017 đạt 98.468 tấn). Sản xuất tôm giống, tôm thương phẩm được phục hồi và tăng trưởng khá ước đạt 24,9 tỷ con/năm, tăng 26,9%. Sản lượng tôm thịt 7.446 tấn, tăng 28,7% so với cùng kỳ. Mô hình tổ đội hợp tác đánh bắt trên biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng.

2- Tình hình nông dân

Đại đa số nông dân phấn khởi và tin tưởng sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước. Kinh tế nông thôn có chuyển biến tích cực, mô hình kinh tế hợp tác bước đầu hoạt động có hiệu quả, một số tổ hợp tác ngành nghề phát triển và đã thu hút được lao động. Sản xuất nông nghiệp có bước phát triển mạnh do có sự quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng, đời sống của nông dân từng bước được cải thiện. Hàng năm giải quyết việc làm cho trên 15.000 lao động và trên 9.100 người được đào tạo nghề ngắn, dài hạn. Tỷ lệ hộ khá, giàu tăng, hộ nghèo giảm bình quân 2,1%/năm. Quá trình đô thị hóa và tích tụ ruộng đất đã tác động tới địa bàn nông thôn; lao động nông nghiệp ngày càng giảm về số lượng. Một bộ phận nông dân thiếu đất sản xuất, thiếu việc làm bỏ địa phương đi làm ăn xa…sự phân hóa giàu nghèo ngày càng mạnh, tác động đến tâm lý của một bộ phận Nông dân và nảy sinh nhiều vấn đề xã hội nông thôn.

3- Tình hình nông thôn

Toàn tỉnh có 111.294 hộ nông, lâm nghiệp và thủy sản, trong đó khu vực nông thôn có 97.198 hộ chiếm 87,33% với 362.945 khẩu trên 126.600 lao động nông nghiệp. Trong những năm qua, tỉnh đã tập trung đầu tư các chương trình, dự án lớn về phát triển nông nghiệp, nông thôn với hàng ngàn tỷ đồng, chủ yếu đầu tư thủy lợi nhiều hồ chứa nước đã hoàn thành; xây dựng, nâng cấp hệ thống kênh mương, tăng diện tích tưới trên 4.000 ha, đạt 42% tổng diện tích. Hoàn thành 316,4 km đường giao thông nông thôn phục vụ phát triển kinh tế, giao lưu hàng hóa; 100% xã có mạng lưới điện và đường ô tô đến trung tâm; tỷ lệ hộ dùng điện đạt 98,4%; 100% xã, phường có trường phổ thông và 97,87 xã có trạm y tế; dịch bệnh được kiểm soát, chăm sóc bảo vệ sức khoẻ nhân dân được nâng lên; trên 44,68% xã tổ chức thu gom rác, trên 51.208 hộ gia đình nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh; 62% hộ gia đình có công trình vệ sinh và đảm bảo vệ sinh môi trường. Chuyển đổi và thành lập mới 21 Hợp tác xã nông nghiệp, 3.152 tổ hợp tác, có 4.282 hộ sản xuất ngành nghề với 10.753 lao động; 12 làng nghề truyền thống như Dệt thổ cẩm, dệt chiếu, đan lát, gốm, tiểu thủ công nghiệp... toàn tỉnh có 45 trang trại sản xuất nông nghiệp với tổng vốn sản xuất kinh doanh 236 tỷ đồng, bình quân 01 trang trại có vốn kinh doanh là 5.245 triệu đồng.

B- KẾT QUẢ CÔNG TÁC HỘI VÀ PHONG TRÀO NÔNG DÂN NHIỆM KỲ 2013-2018

I- Công tác xây dựng tổ chức Hội

1- Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng.

Các cấp Hội luôn bám sát chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nhiệm vụ chính trị của địa phương, của Hội và cuộc vận động “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, làm cho CB.HVND hiểu rõ về truyền thống Cách mạng vẻ vang của Đảng, của Dân tộc, của giai cấp nông dân và Hội Nông dân Việt Nam, nhằm nâng cao tinh thần Cách mạng, chống âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch, phát huy tinh thần làm chủ, đoàn kết tương trợ, ý chí tự lực tự cường, thực hiện đời sống văn hoá mới ở khu dân cư và xây dựng nông thôn mới.

Hình thức sinh hoạt ngày càng đa dạng, phong phú, phù hợp với trình độ của nông dân và điều kiện của địa phương, như sinh hoạt truyền thống, sinh hoạt câu lạc bộ nông dân, tuyên truyền miệng, sân khấu hoá, tọa đàm, nói chuyện chuyên đề, trao đổi kinh nghiệm, hội thi tìm hiểu, liên hoan, bản tin, Website của Hội…

Duy trì và tổ chức thành công Hội thi Nhà Nông đua tài, Hội thi Thể thao nông dân, Liên hoan tiếng hát nông dân và tham gia Hội thi khu vực và toàn quốc, tạo sân chơi bổ ích, hấp dẫn, thiết thực cho cán bộ HVND, giúp cho Nông dân tiếp cận, học tập, trao đổi kiến thức kinh nghiệm trong sản xuất kinh doanh, khoa học kỹ thuật mà còn nâng cao kiến thức về các mặt đời sống xã hội góp phần xây dựng Nông thôn mới.

Các cấp Hội đã vận động cán bộ, hội viên nông dân phát huy tinh thần tương thân tương ái, đóng góp, chia sẻ với những khó khăn của đồng bào vùng bị thiên tai lũ lụt; tham gia đóng góp "Quỹ Đền ơn đáp nghĩa”, “Quỹ Vì người nghèo" và tổ chức các hoạt động thăm hỏi nhân dịp lễ, tết… với số tiền đóng góp hàng chục tỷ đồng.

2- Công tác xây dựng, củng cố tổ chức Hội

Thực hiện Nghị quyết 04, 05 của Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam (NDVN) về nâng cao chất lượng tổ chức Hội các cấp. Quan tâm đến quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của HVND… Bộ máy tổ chức Hội thường xuyên được kiện toàn, bổ sung đủ sức chỉ đạo, tổ chức các hoạt động công tác Hội và phong trào nông dân. Xác định rõ vai trò, nhiệm vụ của từng phòng, ban chuyên môn và từng vị trí công tác. Cán bộ luôn sâu, sát cơ sở hỗ trợ chỉ đạo xây dựng tổ chức Hội và phong trào nông dân; Đội ngũ cán bộ Hội các cấp đảm bảo tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, nghiệp vụ công tác Hội, am hiểu về tình hình nông nghiệp, nông dân, nông thôn và có tinh thần trách nhiệm, uy tín với HVND.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực cho đội ngũ cán bộ được các cấp Hội quan tân, bố trí cử cán bộ tham gia học tập chính trị và chuyên môn nghiệp vụ từng bước chuẩn hoá.

Toàn tỉnh có 7 huyện, thành Hội; 65 Hội cơ sở; 401 chi hội; với 1.390 tổ hội. Trong nhiệm kỳ qua, Hội đã phát triển 19.612 hội viên mới, tổng số hội viên 48.884 người, đạt 69,8 % so với hộ nông nghiệp. Chất lượng hội viên ngày càng được nâng lên, công tác quản lý hội viên ở các cấp được quan tâm 100% hội viên mới vào hội được phát thẻ. Chất lượng sinh hoạt Chi tổ hội được nâng lên, nội dung sinh hoạt cải tiến thiết thực, mở rộng dân chủ.

-Công tác cán bộ đánh giá, quy hoạch, kiện toàn đội ngũ cán bộ Hội các cấp được các cấp Hội thường xuyên triển khai và thực hiện theo hướng dẫn của ngành cũng như cấp uỷ cùng cấp. Hội đã tham mưu thực hiện công tác quy hoạch cán bộ, qua thực tiễn công tác. Hàng năm, Ban Thường vụ Hội Nông dân các cấp chủ động phối hợp xây dựng kế hoạch, nội dung, chương trình và cử cán bộ tham gia các lớp đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ công tác Hội cho 7.241 lượt cán bộ, tăng 6,36% so với nhiệm kỳ trước; Đội ngũ cán bộ làm công tác Hội từ tỉnh xuống cơ sở từng bước được chuẩn hóa, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ công tác Hội và phong trào Nông dân.

-Thực hiện Nghị quyết của BCH TƯ Hội NDVN về đổi mới nội dung và hình thức sinh hoạt chi tổ hội, trong nhiệm kỳ qua Hội Nông dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết nâng cao chất lượng sinh hoạt chi tổ hội, các cấp hội cơ sở tiến hành rà soát củng chố chi tổ hội lấy lợi ích của hội viên để làm nội dung sinh hoạt, hội đã quan tâm tới sản xuất và hỗ trợ tạo điều kiện cho hội viên nông dân. Xây dựng mô hình chi hội, tổ hội nghề nghiệp theo Đề án 24 của Ban Thường vụ Trung ương Hội và Kế hoạch số 82-KH/HNDT ngày 20/10/2016 của Ban Thường vụ Hội Nông dân tỉnh, đến nay toàn tỉnh đã xây dựng được 38 chi tổ hội nghề nghiệp, nhiều cấp hội đã có các làm hay như chi hội thôn Thanh Hiệp, xã Thanh Hải, Ninh Hải với 238 hội viên được chia làm 6 tổ, hội đã tín chấp cho HVND, ngoài ra Quỹ HTND tỉnh đầu tư dự án Nuôi trồng rong sụn đã tạo điều kiện cho hội viên phát triển sản xuất, chi hội đã tạo được nguồn vốn tương trợ nông dân trên 300 triệu đồng để giúp cho hội viên khi gặp khó khăn, qua đó đã gắn bó thu hút hội viên tham gia sinh hoạt.

- Xây dựng và sử dụng Quỹ Hội; thu, nộp hội phí. Quỹ Hội là nguồn bổ sung quan trọng đảm bảo cho duy trì tổ chức các hoạt động công tác Hội và các phong trào nông dân ở cơ sở, đảm bảo cho sinh hoạt hội, tổ chức các hoạt động thăm hỏi cán bộ, HVND khi đau ốm, gặp khó khăn…; Trong 5 năm, nguồn quỹ Hội được xây dựng bằng nhiều hình thức chủ yếu từ hội phí, từ đóng góp của cán bộ, hội viên nông dân … Trung bình hàng năm tỷ lệ hội viên đóng hội phí đạt 75,2% so với tổng số hội viên; có 65/65 cơ sở Hội và 401 chi Hội xây dựng được nguồn quỹ tương trợ nông dân, so với nhiệm kỳ trước tăng 23 cơ sở và 252 chi Hội có quỹ, đạt tỷ lệ 80% chi Hội. Đa số cơ sở Hội sử dụng Quỹ đúng mục đích, đúng quy định.

 

3- Công tác kiểm tra, giám sát

Ban Kiểm tra các cấp Hội thường xuyên củng cố kiện toàn, bộ máy hoạt động có hiệu quả trên tất cả các lĩnh vực, cán bộ làm công tác kiểm tra được bổ sung kịp thời, có trình độ, có năng lực, kinh nghiệm thực tiễn. Đến nay 100% cơ sở và huyện thành Hội có ban kiểm tra. Trong nhiệm kỳ qua đã cử 327 lượt cán bộ làm công tác kiểm tra tham gia 06 lớp tập huấn nghiệp vụ do Trung ương Hội tổ chức.

- Thực hiện chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát hàng năm.Qua quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát; Ban Kiểm tra các cấp trong tỉnh đã tổ chức được 2.114 cuộc kiểm tra với các hình thức, nội dung kiểm tra là việc chấp hành các chủ trương của Đảng Chính sách pháp luật của nhà nước, chấp hành điều lệ Hội, các chương trình công tác Hội và các phong trào nông dân, kiểm tra quản lý và chi tiêu tài chính Hội, thực hiện các chương trình dự án phát triển kinh tế do Hội quản lý. Qua kiểm tra đã kịp thời chỉ đạo hướng dẫn, uốn nắn những thiếu sót lệch lạc trong việc thực hiện nhiệm vụ công tác của Hội.

4- Công tác nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn

Hội đã phối hợp thực hiện 03 dự án khoa học cấp huyện với tổng kinh phí gần 1 tỷ đồng, trong đó nhà nước hỗ trợ 700 triệu đồng, còn lại do nông dân đóng góp, gồm các dự án xây dựng “mô hình tưới nước tiết kiệm thông minh”, “mô hình trồng rau măng tây theo hướng VietGAP” và xây dựng quy trình quản lý nhãn hiệu tập thể “Táo Ninh Thuận ” nhằm giúp nông dân nâng cao giá trị sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Phối hợp thực hiện dự án tam nông (IFAD) tạo vốn và kỹ năng sản xuất cho nông dân thông qua chuỗi giá trị trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; phối hợp với tổ chức (iDE) tại Việt Nam triển khai thực hiện dự án “Xây dựng mô hình tưới nước tiết kiệm cho dân nghèo Nam Trung Bộ tại Ninh Thuận” tại 21 xã thuộc 04 huyện thành phố (Ninh Phước, Ninh Hải, Ninh Sơn và TP. Phan Rang-Tháp Chàm); tổng giá trị dự án trên 1,6 tỷ đồng với 1485 hộ dân lắp đặt các hệ tưới trên diện tích trên 620 ha, dự án đã giúp nông dân, đặc biệt là nông dân nghèo giảm chi phí sản xuất, tăng thu nhập và góp phần bảo vệ môi trường.

5- Công tác Thi đua – Khen thưởng

Quán triệt Chỉ thị số 39 ngày 21/5/2004 của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 23 ngày 31/8/2011 của Tỉnh uỷ về việc “tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiên tiến”, Luật Thi đua, Khen thưởng và Luật bổ sung sửa đổi Luật Thi đua khen thưởng và các văn bản của Trung ương Hội, của tỉnh quy định về công tác thi đua, khen thưởng.

Các cấp Hội trong tỉnh đã tổ chức phát động các phong trào thi đua với chủ đề và nội dung cụ thể, thiết thực; Hội đã tổ chức ký, đăng ký thi đua trong cán bộ, HVND; Ký thi đua với các đơn vị trong khối Mặt trận đoàn thể về thực hiện nhiệm vụ công tác của Hội và các phong trào nông dân, thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của địa phương định kỳ hàng năm kiểm tra đánh giá hoạt động, bình xét thi đua; kịp thời sơ, tổng kết biểu dương, khen thưởng và nhân rộng các tập thể, cá nhân điển hình có thành tích xuất sắc trong các phong trào thi đua. Các cấp Hội và cán bộ, HVND được Chủ tịch Nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì; cờ thi đua của chính phủ về phong trào Bảo vệ ANTQ; Chính phủ tặng 8 Bằng khen; TW Hội tặng 50 Bằng khen; Tỉnh uỷ Ninh Thuận tặng 10 Bằng khen thành tích thực hiện Chỉ thị 59; UBND Tỉnh tặng 02 cờ thi đua xuất sắc, 30 Bằng khen; 20 Bằng khen và trên 80 bằng khen của Tỉnh hội, của các ngành liên tịch; trao tặng 120 Kỷ niệm chương "Vì sự nghiệp Giai cấp Nông dân Việt Nam".

6- Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Ban Chấp hành các cấp Hội

- Ban chấp hành Hội nông dân từ tỉnh xuống cơ sở luôn đổi mới hình thức hoạt động, hướng về cơ sở. Chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của hội viên nông dân.

- Hoạt động của BCH BTV hội nông dân các cấp luôn kết hợp giữa tuyên truyền với tổ chức các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất nâng cao đời sống để tập hợp nông dân.

- Công tác chỉ đạo và điều hành của Ban Chấp hành Hội Nông dân các cấp từ tỉnh đến cơ sở luôn tích cực chủ động đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, hướng về cơ sở, bám sát HVND và địa bàn nông thôn từng bước đáp ứng ngày càng tốt hơn quyền và lợi ích chính đáng hợp pháp của HVND. Vận động tập hợp nông dân vào tổ chức Hội gắn với đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ, tư vấn dạy nghề, hỗ trợ HVND phát triển sản xuất, nâng cao đời sống.

Ban chấp hành Hội Nông dân các cấp đã bám sát chủ trương, nghị quyết của Đảng bộ địa phương, tranh thủ sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự ủng hộ và hỗ trợ của chính quyền, chủ động phối hợp với các ban ngành đoàn thể tạo cơ chế, chính sách và nguồn lực cho công tác Hội và phong trào nông dân. Công tác chỉ đạo điều hành luôn được đổi mới và hướng về cơ sở, giải quyết kịp thời nhu cầu thiết thực của HVND.

7- Công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế

- Các cấp Hội thường xuyên đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước.

- Hoạt động công tác Hội luôn chú trọng mở rộng quan hệ và hợp tác quốc tế thông qua các chương trình, dự án với các tổ chức phi chính phủ như Hà Lan, Nga; tổ chức iDE giai đoạn 2 nhân rộng mô hinh tưới nước tiết kiệm, công tác vận động, quản lý nguồn viện trợ nước ngoài đảm bảo theo quy định .

- Công tác đưa hội viên tham quan học tập nước ngoài đang triển khai chỉ có 01 nông dân tiêu biểu tham quan mô hình sản xuất công nghệ cao tại Đài Loan và sang nước bạn Kam Pu Chia hướng dẫn kỹ thuật trồng nho và đưa một số hội viên, nông dân đi lao động, làm việc ở nước ngoài dạng ngắn ngày.

II- Vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam tham gia phát triển nông nghiệp

1- Phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững

Là phong trào thi đua do Trung ương Hội NDVN phát động, 5 năm qua đã có 196.301 lượt hộ đăng ký thi đua và đã bình chọn được 116.105 hộ đạt danh hiệu sản xuất kinh doanh giỏi các cấp đạt tỷ lệ 59% hộ đăng ký và tăng 53,59% .

Các cấp Hội từ tỉnh đến cơ sở đã phối hợp với các sở ngành tổ chức tập huấn, chuyển giao tiến bộ KHKT mới cho 193.186 lượt nông dân; giúp HVND ứng dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất tăng thu nhập như: mô hình “1 phải, năm giảm”, mô hình tưới nước tiết kiệm, mô hình trồng Măng tây xanh; mô hình cánh đồng mẫu lớn… nhiều hộ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi có quy mô lớn, ứng dụng công nghệ sản xuất hiện đại trong việc sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, tăng sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản của địa phương. Tiêu biểu như hộ ông hộ Lê Văn Thái Cà Ná; hộ ông Tu Thanh Hường ở Phước Dinh - Thuận Nam; hộ ông Châu Văn Năng ở An Hải; hộ ông Nguyễn Mọi ở Phước Thuận-Ninh Phước; hộ ông Đạo Thanh Thích, Xuân Hải , hộ bà Trần Thị Tân, xã Tri Hải-Ninh Hải; Hộ ông Nguyễn Thường Lang, xã Mỹ Hải, TP.PRTC … doanh thu của các hộ SXKD Giỏi với hàng trăm triệu đồng, nhiều hộ có doanh thu trên vài tỷ đồng/năm, đã giúp giải quyết việc làm cho nhiều lao động nông thôn.

Nhiều hội viên nông dân sản xuất kinh doanh giỏi  có vốn, có kiến thức KHKT đã trực tiếp hướng dẫn giúp đỡ 5.677 hộ hội viên nông dân thoát nghèo bền vững. Hội đã tổ chức hội nghị tổng kết phong trào thi đua yêu nước, bình chọn 16 đại biểu dự Đại hội thi đua yêu nước của tỉnh và của Trung ương Hội, Trong đó có 01 đại biểu vinh dự được Chính phủ tặng bằng khen và 15 đại biểu được TW Hội tặng bằng khen và UBND tỉnh tặng bằng khen cho 30 nông dân tiêu biểu xuất sắc.

Với nhiều hình thức phong phú các cấp Hội đã vận động, tư vấn hướng dẫn hội viên nông dân tham gia sản xuất kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác, tổ hợp tác gắn với công tác hỗ trợ vốn và đào tạo nghề cho nông dân với hình thức học đi đôi với thực hành, giúp nâng cao kỹ năng lao động nông thôn; tổ chức cho cán bộ hội viên nông dân tham quan học hỏi những mô hình làm ăn có hiệu quả của các tỉnh, thành bạn như mô hình Nuôi lươn trải bạt tại Cần Thơ; mô hình nông nghiệp công nghệ cao, mô hình trồng Hoa lan ở TP.HCM; Mô hình sản xuất gắn với du lịch sinh thái ở An Giang… tham gia “Sàn kết nối cung cầu nông nghiệp, thực phẩm” để giúp nông dân tiêu thụ sản phẩm.

2- Tổ chức hoạt động hỗ trợ, tư vấn giúp nông dân phát triển sản xuất

Thực hiện chương trình hành động của tỉnh ủy và kế hoạch 5554 của UBND tỉnh về việc triển khai  thực hiện quyết 26 ngày 05/8/2008 Hội nghị lần thứ 7 BCH TW khóa X về “nông nghiệp, nông dân, nông thôn” BCH Hội nông dân tỉnh đã xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện có hiệu quả Kết luận số 61 ngày 03/12/2010 của Ban Bí thư, Quyết định số 673 ngày 10/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ về đề án “Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp Nông dân Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020”. Tham mưu thành lập Ban chỉ đạo 61 cấp tỉnh và chỉ đạo các huyện thành ủy thành lập Ban chỉ đạo và thành lập Tổ kết luận 61 tại các xã thị trấn trong toàn tỉnh bước đầu hoạt động có hiệu quả, đã tạo điều kiện cho hoạt động công tác Hội và phong trào Nông dân.

Các cấp Hội đã chủ động tham mưu xây dựng và thành lập Quỹ Hỗ trợ nông dân (HTND) cấp tỉnh và huyện. Quỹ HTND Trung ương uỷ thác cho vay 44 dự án với tổng số tiền 18,201 tỷ đồng, riêng năm 2017 là 5,923 tỷ đồng/10 dự án, tất cả nguồn vốn trên đã được giải ngân giúp nông dân xây dựng các mô hình phát triển kinh tế theo tổ, nhóm tiến tới xây dựng mô hình tổ hợp tác, hợp tác xã….; Quỹ HTND tỉnh đã tiếp nhận 9 tỷ đồng từ nguồn vốn ngân sách tỉnh theo Kế hoạch 5554 của UBND tỉnh, giải ngân cho Hội viên nông dân vay phát triển sản xuất. Quỹ đã vận động trong nông dân được 803 triệu đồng, tăng 14,84% so với nhiệm kỳ trước, nâng tổng số tiền quỹ HTND trên 1.168 triệu đồng và giúp cho 2.920 lượt hộ nông dân vay phát triển sản xuất, hạn chế việc cho vay nặng lãi ở nông thôn.

Kết quả phối hợp với Ngân hàng Chính sách - Xã hội và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tạo điều kiện cho nông dân vay vốn. Các cấp Hội đã phối hợp với Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT, Ngân hàng Chính sách Xã hội tín chấp cho nông dân vay phát triển sản xuất với tổng số tiền trên 2.367 tỷ đồng, dư nợ bình quân 473,528 tỷ đồng/năm; củng cố và thành lập 446 tổ TK&VV Ngân hàng CSXH; 18.911 hộ ở 7/7 huyện, thành phố tổng số dư nợ 437.762 tỷ đồng, trong đó nợ quá hạn 6.449 tỷ đồng; chiếm tỷ trọng 25,5%. Qua công tác kiểm tra giám sát của Hội và Ngân hàng NN&PTNT; Ngân hàng CSXH cho thấy tổ vay vốn và tổ TK&VV duy trì hoạt động theo đúng qui định, công tác thu lãi thực hiện khá tốt, tỷ lệ thu lãi định kỳ đạt trên 90%,

Công tác nghiên cứu khoa học các cấp Hội đã trực tiếp tham gia 05 đề án KHCN và phối hợp tham gia 03 dự án khoa học và 01 đề án ứng dụng KHCN, thông qua các đề tài dự án đã giúp cho đội ngũ cán bộ Hội viên nông dân, tiếp cận với tiến bộ KHKT được người dân đồng tình ủng hộ nhất là đề án tưới nước tiết kiệm và đề án bảo tồn cây chuối cô đơn Phước Bình do TW Hội chuyển giao…

Kết quả triển khai Chương trình phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Trường Cao đẳng nghề Ninh Thuận nghiên cứu và chuyển giao ứng dụng tưới nước tiết kiệm thông qua cảm biến và sử dụng điện thoại để điều khiển; các cấp Hội đã triển khai nhân rộng mô hình tưới nước tiết kiệm cho trên 6.500 hội viên nông dân tham gia với tổng số vốn trên 23 tỷ đồng chủ yếu là do nông dân đóng góp với trên 2.500 hộ tham gia với tổng diện tích trên 500ha. Ngoài ra Hội còn triển khai mô hình ứng dụng sử dụng chế phẩm BiOWiHs trong nuôi tôm và trong sản xuất nông nghiệp đem lại hiệu quả cao trong sản xuất.

3- Vận động, hướng dẫn nông dân tham gia phát triển các hình thức kinh tế tập thể

Công tác tuyên truyền, vận động, hướng dẫn nông dân tham gia phát triển các hình thức kinh tế tập thể Trong 5 năm qua các cấp Hội đã phối hợp vận động thành lập 150 tổ hợp tác và hợp tác xã; Ngoài ra từ chương trình dự án tam nông Hội đã tiếp quản và củng cố 108 nhóm sản xuất và tổ hợp tác hoạt động theo 8 chuỗi giá tri như chuỗi Bò, dê, cừu, heo đen và chuỗi trồng Nho, táo, tỏi và chuối.

Hội phối hợp với Ban Kinh tế Trung ương Hội NDVN tổ chức tập huấn kiến thức về kinh tế tập thể, hình thức, cách làm để phát triển kinh tế tập thể cho trên 60 cán bộ hội viên nhằm nâng cao nhận thức về kinh tế hợp tác.

Thực hiện dự án tam nông (IFAD) của tỉnh trong nhiệm kỳ qua các cấp Hội đã phối hợp vận động xây dựng 438 tổ hợp tác và hợp tác xã với 2.500 hội viên nông dân của 27 xã tham gia. Thông qua hoạt động truyền thông của dự án, các thành viên đã nhận biết và thực hiện chuỗi giá trị, gắn với việc tìm đầu ra cho sản phẩm, đưa các kiến thức KHKT giúp cho HVND phát triển kinh tế, đoàn kết giúp nhau xóa đói giảm nghèo và vươn lên làm giàu; lồng ghép đưa chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của Hội cho HVND, xây dựng tổ chức Hội ngày càng vững mạnh và góp phần nâng cao chất lượng dân số, thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững; trong đó Hội trực tiếp vận động và thành lập 150 tổ hợp tác và hợp tác xã, còn lại là phối hợp thực hiện. Triển khai 03 dự án chăn nuôi dê cừu vỗ béo cho bà con nông dân xã Nhơn Hải, Vĩnh Hải huyện Ninh Hải và dự án nuôi heo rừng cho đồng bào dân tộc xã Phước Kháng, Thuận Bắc với với tổng số vốn 985,819 triệu đồng.

III- Vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam trong xây dựng nông thôn mới

1- Phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới

Thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư ” và phong trào xây dựng gia đình nông dân văn hoá. 5 năm qua các cấp Hội đã vận động 262.995 lượt hộ HVND đăng ký thi đua và bình chọn được 197.467 lượt hộ đạt danh hiệu gia đình văn hoá, tăng 57,27% so với nhiệm kỳ trước.

 Hội đã bình chọn 03 hộ gia đình nông dân tiêu biểu tham dự Hội nghị nông dân tiêu biểu toàn quốc vùng đồng bào dân tộc, vùng đồng bào có đạo; phối hợp với Văn phòng điều phối Chương trình xây dựng nông thôn mới tổ chức 10 lớp tập huấn cho 656 cán bộ, HVND, đoàn thể của xã về xây dựng nông thôn mới; Phát hành các loại tài liệu tập huấn tuyên truyền về chủ trương xây dựng nông thôn mới gắn triển khai thực hiện tiểu dự án về học tập pháp luật cho nông dân vùng đồng bào dân tộc ít người.

Các cấp Hội phối hợp vận động nông dân hiến đất, đóng góp hàng ngàn ngày công lao động để sửa chữa, kiên cố hoá kênh mương, làm mới và sửa chữa đường giao thông nông thôn… góp phần phát triển kinh tế, giao lưu hàng hoá từng bước xây dựng nông thôn mới. Phối hợp xoá nhà tạm được 4.236 căn, trong đó hội trực tiếp làm 325 căn; phối hợp vận động xây dựng 3.911 căn nhà tình thương trị giá hàng trăm tỷ đồng.

            Vận động HVND tham gia câu lạc bộ “An toàn giao thông”, ký cam kết chấp hành Luật Giao thông đường bộ, các qui định về hành lang an toàn giao thông, góp phần đảm bảo an toàn giao thông và ý thức của HVND khi tham gia giao thông ngày càng được nâng lên.

2- Phong trào nông dân tham gia bảo đảm quốc phòng, an ninh

Trong 5 năm qua các cấp Hội đã tranh thủ sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền; chủ động phối hợp các sở ngành, đoàn thể trong tỉnh và thông qua bản tin, Website của Hội, trong sinh hoạt, hội nghị... đã tổ chức quán triệt và triển khai đến cán bộ, HVND về tầm quan trọng của phong trào nông dân tham gia bảo đảm QPAN qua đó giúp cho HVND nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng trước âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch giữ vững QPAN nông thôn.

Hội đã phối hợp với Công an, Quân sự, bộ đội biên phòng thực hiện chương trình liên tịch; tuyên truyền giáo dục đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về nhiệm vụ Quốc phòng, an ninh trong tình hình mới; góp phần nâng cao nhận thức chính trị, tinh thần cảnh giác cách mạng, ý thức trách nhiệm công dân về thực hiện nhiệm vụ Quốc phòng, an ninh của địa phương, phòng chống tội phạm, ma tuý và các tệ nạn xã hội. Vận động con em cán bộ, hội viên nông dân thực hiện tốt công tác tuyển quân hàng năm đạt 100% chỉ tiêu; Vận động nông dân tích cực tham gia phong trào toàn dân bảo vệ An ninh Tổ quốc; thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 09/CP, phòng ngừa, phát hiện tố giác tội phạm, đấu tranh ngăn chặn các hành động phá hoại thực hiện âm mưu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, tham gia đảm bảo an ninh nông thôn. Phối hợp chính quyền địa phương, các ban ngành đoàn thể giải quyết có hiệu quả các vụ tranh chấp, gây rối, chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh.

Xây dựng mô hình tổ tự quản ở nông thôn, nòng cốt là những CB.HVND có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, hoạt động có hiệu quả để qua đó đã góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn dân cư.

3- Thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”; chăm sóc, bảo vệ sức khỏe hội viên nông dân.

Thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” trong nhiệm kỳ qua các cấp Hội nông dân từ tỉnh đến cơ sở đã phối hợp vận động cán bộ hội viên nông dân tích cực hưởng ứng, nhiều hộ gia đình nông dân đã tự nguyện hiến đất để làm đường giao thông nông thôn, vận động xây dựng gia đình hiếu học, vận động con em tới trường; nhận bảo quản xây dựng tuyến đường giao thông nông thôn xanh sạch đẹp; tuyến đường thắp sáng vùng quê…qua đó góp phần xây dựng 18 xã đạt chuẩn Nông thôn mới.

Hội đã phối hợp với ngành y tế, giáo dục và BHXH tỉnh tổ chức ký kết chương trình phối hợp vận động xã hội học tập và nông dân tham gia mua BHXH, qua đó góp phần nâng cao dân trí, nhận thức cho người nông dân nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và giảm rủi ro trong lao động sản xuất.

IV- Vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam với xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam vững mạnh

1- Tổ chức dạy nghề cho nông dân

Được sự quan tâm của Trung ương Hội NDVN và UBND tỉnh, năm 2014 Hội Nông dân tỉnh tổ chức khánh thành và đi vào hoạt động Trung tâm dạy nghề và Hỗ trợ Nông dân với tổng trị giá trên 40,5 tỷ đồng. 5 năm qua, Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân đã mở 195 lớp đào tạo nghề cho 7.090 lao động nông thôn, trong đó trên 50% lao động là hộ nghèo, đồng bào dân tộc với các nghề đào tạo như kỹ thuật trồng trọt (lúa, bắp, mía, táo, bưởi da xanh, rong sụn, nấm rơm…), chăn nuôi thú y (dê, cừu, bò, cá nước ngọt, tôm thịt…) các ngành nghề khác và phối hợp tổ chức 240 lớp đào tạo nghề cho 7.822 lao động; một số nghề đã phát huy được hiệu quả góp phần giải quyết việc làm cho lao động nông thôn.

2- Bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nông dân

Trong nhiệm kỳ qua các cấp Hội đã tổ chức hòa giải thành 791 vụ mâu thuẫn và phối hợp với các ngành giải quyết 490 vụ việc của nông dân, trong đó có 65 vụ có tính chất đông người phức tạp; tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho 352 trường hợp về đền bù giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất, đồng thời phản ánh với các cấp chính quyền 94 vụ việc, cung cấp hàng ngàn nguồn tin có giá trị cho cơ quan chức năng xử lý, phối hợp cảm hóa 71 đối tượng sai phạm, giúp đỡ nhiều người hoàn lương tái hòa nhập cộng đồng, giữ gìn tình đoàn kết trong dân cư và góp phần giữ vững ổn định an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn nông thôn.

3- Giải quyết khiếu nại, tố cáo, hòa giải

Thực hiện Quyết định số 81/2014/QĐ-TTg, ngày 31/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ. Thực hiện Chỉ thị 26 của Thủ tướng Chính phủ về “tạo điều kiện để Hội Nông dân các cấp tham gia giải quyết khiếu nại tố cáo của nông dân” và Công văn 1502/TTg-V.II của Thủ tướng Chính phủ về “tăng cường phối hợp với Hội Nông dân các cấp giải quyết khiếu nại tố cáo” và các văn bản pháp luật của nhà nước trên địa bàn nông thôn. Hội đã tham mưu UBND tỉnh tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 26/TTg của Thủ tướng Chính phủ; Từ nguồn vốn dự án Trung ương Hội NDVN; Hội đã thành lập 05 câu lạc bộ “Nông dân với pháp luật” ở 05 xã điểm, nâng tổng số câu lạc bộ trong toàn tỉnh là 6 xã, tổ chức 53 lớp tập huấn kiến thức pháp luật cho 2974 lượt cán bộ, HVND tham gia góp phần nâng cao kiến thức, nhận thức pháp luật.

4- Tham gia giám sát, phản biện xã hội và hoàn thiện cơ chế, chính sách liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn của địa phương

Thực hiện Quyết định số 217-QĐ/TW của Bộ Chính trị hàng năm các cấp Hội xây dựng chương trình tham gia xây dựng và tổ chức giám sát việc thực hiện nhiệm vụ tại địa phương. Hội đã phối hợp với UBMTTQVN, Sở Công thương, Sở nông nghiệp& PTNT tổ chức giám sát việc sản xuất kinh doanh vật tư phân bón kém chất lượng; hội đã tổ chức 5 cuộc kiểm tra ở các cơ sở sản xuất kinh doanh qua đó nhằm hạn chế nạn phân bón giả, phân bón kém chất lượng. Ngoài ra Hội nông dân còn tổ chức giám sát quyết định 12 của Thủ tướng Chính phủ về thực hành nông nghiệp tốt giai đoạn 2012-2016.

Hội Nông dân tỉnh đã đề xuất cơ chế, chính sách liên quan đến phát triển nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới đó là đề án Hỗ trợ Nông dân nhân rộng mô hình tưới nước tiết kiệm gắn với chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên địa bàn tỉnh; đề án tuyên truyền vận động nông dân sản xuất kinh doanh sản phẩm an toàn, nói không với thực phẩm bẩn và trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt đề án đưa nông dân đi học tập trong nước và ngoài nước.

V- Tham gia xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh và khối đại đoàn kết dân tộc

Các cấp Hội đã tuyên truyền, vận động HVND nêu cao ý thức, trách nhiệm xây dựng và bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền; góp ý cho tổ chức cơ sở Đảng, đảng viên, gắn với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tổ chức lấy ý kiến của cán bộ, HVND tham gia xây dựng các chủ trương, chính sách của Đảng và các văn bản pháp luật của Nhà nước có liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn; các chính sách phát triển kinh tế-xã hội của địa phương; thực hiện quy chế dân chủ cơ sở theo phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Tham gia hiệp thương giới thiệu người ứng cử Đại biểu Quốc hội khoá XIII và bầu đại biểu HĐND các cấp. Vận động HVND học tập Luật Bầu cử Quốc hội và Bầu cử HĐND, tham gia đi bầu cử đạt trên 99%, tham gia góp ý sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và luật đất đai sửa đổi.

Tham mưu Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết số 36 NQ/TU về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Hội Nông dân Việt Nam thời kỳ CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn; Tham mưu UBND tỉnh sơ kết 5 năm thực hiện Quyết định 673 của Thủ tướng Chính phủ, và Kế hoạch 5554 của UBND về triển khai thực hiện Quyết định 673 của Thủ tướng Chính phủ.

Thực hiện Quyết định 218-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị trong nhiệm kỳ qua Hội đã phối hợp với UBMTTQ VN tỉnh tổ chức giám sát một số chủ trương chính sách theo đúng quy định của hoạt động giám sát phản biện.

Công tác bồi dưỡng, giới thiệu quần chúng ưu tú để phát triển Đảng các cấp Hội đã giới thiệu hàng trăm nông dân ưu tú cho cấp uỷ chi bộ xem xét kết nạp vào đảng.

C- ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

I- Đánh giá chung

1- Những kết quả nổi bật, nguyên nhân.

Công tác tuyên truyền về chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước tiếp tục đổi mới, chất lượng, hiệu quả tạo được niềm tin, nhất là chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nông thôn mới theo tinh thần nghị quyết Hội nghị TW7, tạo sự chuyển biến về nhận thức, hành động của cán bộ, hội viên nông dân trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ công tác Hội và phong trào nông dân;

Công tác xây dựng tổ chức Hội các cấp được chỉ đạo tập trung kịp thời và có nhiều chuyển biến tích cực; đội ngũ cán bộ Hội từng bước trưởng thành, có trình độ và bản lĩnh chính trị, chuyên môn nghiệp vụ được nâng lên, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Công tác kiểm tra, giám sát được tăng cường và phối hợp thực hiện có hiệu quả; công tác hòa giải, giải quyết khiếu nại tố cáo trong nội bộ nông dân được các cấp Hội quan tâm.

Các phong trào nông dân từng bước được đổi mới đi vào chiều sâu, tập trung vào chương trình, dự án phát triển các mô hình kinh tế hợp tác, hợp tác xã,.. nhất là Hội đảm nhận và thực hiện các dự án kinh tế, khoa học, bước đầu có ý nghĩa tích cực đối với nông thôn, góp phần nâng cao kiến thức từng bước thay đổi phương pháp canh tác trong nông dân, ứng dụng KHKT vào sản xuất, bảo vệ môi trường và có tính bền vững gắn với đầu ra sản phẩm; đồng thời tín chấp tạo vốn, đào tạo nghề, hỗ trợ sản xuất cho nông dân, góp phần giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, giữ vững ổn định an ninh, chính trị, trật tự ATXH ở nông thôn và xây dựng nông thôn mới.

2- Hạn chế, yếu kém

Công tác tuyên truyền có lúc có nơi còn hạn chế về nội dung và hình thức, chưa thường xuyên, chưa sâu kỹ, có lúc có nơi còn mang tính hình thức.

Một số nơi đội ngũ cán bộ Hội chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới để thực hiện chủ trương xây dựng nông thôn mới … thể hiện sự hạn chế về kiến thức kỹ năng thực tiễn, trách nhiệm, nhiệt tình, thiếu tính năng động, sáng tạo trong tổ chức thực hiện công tác Hội và các phong trào nông dân. Công tác tập hợp HVND thông qua các chương trình phát triển các dự án, mô hình .. tỷ lệ còn rất thấp.

Chất lượng tổ chức thực hiện nhiệm vụ công tác Hội và phong trào nông dân ở một số nơi còn thấp, một số cơ sở Hội chưa phát huy được vai trò, vị trí, chức năng của mình, chưa thực sự là người đại diện và bảo vệ lợi ích chính đáng cho hội viên nông dân, chưa làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyền trong triển khai thực hiện nhiệm vụ. Công tác kiểm tra của Hội ở một số nơi chưa được thường xuyên; Công tác thông tin báo cáo chưa kịp thời, nội dung thiếu phong phú.

Một số cơ sở Hội thiếu chủ động tích cực phối hợp với các ngành, còn lúng túng trong xây dựng các phong trào, mô hình giúp nông dân phát triển sản xuất kinh doanh,…

Các phong trào thi đua của nông dân phát triển chưa đều, chưa rộng khắp, chưa đảm bảo tính bền vững, chưa cổ vũ động viên để đông đảo HVND hưởng ứng tham gia; Công tác sơ, tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm và nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến ít được quan tâm. Chưa tổ chức được các hội nghị chuyên đề, hướng dẫn những kinh nghiệm hay mô hình làm ăn có hiệu quả cho cơ sở Hội học tập và đề xuất các dự án, nhất là các dự án khoa học để giúp nông dân ứng dụng vào sản xuất.

Công tác vận động xây dựng Quỹ HTND các năm trước đây còn hạn chế; việc quản lý cho vay, thu nợ vay quá hạn chưa được các cấp Hội quan tâm, một bộ phận nông dân vay vốn ý thức còn hạn chế chưa chấp hành việc trả nợ khi đến hạn.

3. Nguyên nhân

Những khuyết điểm, hạn chế có nguyên nhân khách quan do tác động hạn hán kéo dài, nguồn lực đầu tư còn hạn chế… xu thế hội nhập kinh tế thế giới ngày càng sâu. Nhưng nguyên nhân chủ quan vẫn là chủ yếu, nổi lên là:

Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ Hội ở một số cơ sở còn hạn chế; chưa phát huy hết tinh thần trách nhiệm, tính chủ động sáng tạo trong chỉ đạo điều hành công việc; chưa sâu sát nắm bắt kịp thời tâm tư nguyện vọng, diễn biến tư tưởng và tâm lý của nông dân để chỉ đạo giải quyết kịp thời.

Hoạt động công tác Hội ở một số cơ sở còn lúng túng, chưa bám sát chức năng, nhiệm vụ của Hội và nhiệm vụ chính trị của địa phương. Chưa thực hiện tốt vai trò tham mưu cho cấp uỷ Đảng, tạo điều kiện hỗ trợ của Chính quyền và sự phối kết hợp của các ban ngành, đoàn thể.

Cấp uỷ, chính quyền một số ít địa phương chưa thực sự quan tâm lãnh đạo và tạo điều kiện để Hội Nông dân hoạt động theo tinh thần Chỉ thị 59 của Bộ Chính trị (Khóa VIII), Quyết định 17 của Thủ tướng Chính phủ, nên việc bố trí cán bộ, kinh phí chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ công tác Hội và phong trào nông dân. Chế độ chính sách cho cán bộ Hội cơ sở còn bất cập đã ảnh hưởng đến chất lượng và tinh thần làm việc; Tổ chức bộ máy, cán bộ của Hội một số nơi chưa ổn định và thường điều chuyển công tác.

* Nguyên nhân của hạn chế, yếu kém.

Nguyên nhân chủ quan: Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ Hội ở một số cơ sở còn hạn chế; chưa phát huy hết tinh thần trách nhiệm, tính chủ động sáng tạo trong chỉ đạo điều hành công việc; chưa sâu sát nắm bắt kịp thời tâm tư nguyện vọng, diễn biến tư tưởng và tâm lý của nông dân để chỉ đạo giải quyết kịp thời.

Hoạt động Hội ở một số cơ sở còn lúng túng, chưa bám sát chức năng, nhiệm vụ của Hội và nhiệm vụ chính trị của địa phương. Chưa thực hiện tốt vai trò tham mưu cho cấp uỷ Đảng, tạo điều kiện của Chính quyền và sự phối kết hợp của các ban ngành, đoàn thể.

Cấp uỷ, chính quyền một số ít địa phương chưa thực sự quan tâm lãnh đạo và tạo điều kiện để Hội Nông dân hoạt động; việc bố trí cán bộ, kinh phí chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ công tác Hội và phong trào nông dân. Chế độ chính sách cho cán bộ Hội cơ sở còn bất cập đã ảnh hưởng đến chất lượng và tinh thần làm việc; Tổ chức bộ máy, cán bộ của Hội một số nơi chưa ổn định , một số cơ sở cấp phó phải kiêm nhiệm hoạt động kém hiệu quả.

Nguyên nhân khách quan: Những khuyết điểm, hạn chế có nguyên nhân khách quan do tác động của biến đổi khí hậu, dịch bệnh gia súc, gia cầm, tình hình ô nhiễm môi trường và những thách thức về quy mô nền kinh tế của tỉnh điểm xuất phát thấp, trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới đã tác động đến hoạt động công tác Hội và phong trào Nông dân.

II- Bài học kinh nghiệm.

1-Xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ trình độ năng lực, nhiệt tình và am hiểu công tác vận động nông dân. Coi trọng việc lựa chọn, bố trí, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Hội là những người thật sự có uy tín, sâu sát cơ sở, nhiệt tình công tác, có phẩm chất đạo đức.

2-Biết tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của TW Hội NDVN, của Thường trực Tỉnh uỷ, sự quan tâm tạo điều kiện của chính quyền và sự phối kết hợp của các Ban ngành, đoàn thể để tổ chức thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ của mình.

3-Công tác chỉ đạo và tổ chức thực hiện phải tập trung và có kế hoạch; chú trọng xây dựng mô hình chỉ đạo điểm, tổ chức sơ, tổng kết rút kinh nghiệm; kịp thời biểu dương khen thưởng và nhân rộng nhằm đem lại lợi ích thiết thực cho nông dân, coi đó là động lực chính gắn với lợi ích của toàn xã hội.

4-Đa dạng hóa các loại hình vận động, đổi mới hình thức tập hợp nhằm khai thác các nguồn lực trong nông dân, nông thôn. Vận động phải đi đôi với hỗ trợ thông qua các phong trào thi đua, các chương trình, dự án phát triển sản xuất, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nông dân.

5-Tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức kinh tế và các nhà tài trợ để triển khai thực hiện các mô hình dự án đem lại hiệu quả hoạt động công tác Hội và phong trào Nông dân.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phần thứ hai

PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ,

GIẢI PHÁP CÔNG TÁC HỘI VÀ PHONG TRÀO NÔNG DÂN

NHIỆM KỲ VIII (2018-2023)

 

 

 

 

 I.Tình hình trong nước, thế giới và biến động của giai cấp nông dân trong những năm tới

Sau 30 năm đổi mới Đảng và Nhà nước đã tiến hành tổng kết, đánh giá và đề ra nhiều chủ trương quyết sách lớn nhằm đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế; nhất là cuộc cách mạng nông nghiệp 4.0 đó là tập trung vào sản xuất thông minh dựa trên các thành tựu đột phá trong công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ nano sẽ hỗ trợ cho nông dân rất nhiều trong sản xuất, canh tác và tạo ra hàng hoá sản phẩm tốt, nâng cao hiệu quả kinh tế, giảm thiểu tác động xấu đến môi trường... nhằm khắc phục khó khăn, hạn chế, yếu kém trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, nông dân, nông thôn; chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đang được các cấp các ngành triển khai thực hiện, được đông đảo cán bộ  hội viên hưởng ứng tham gia với nhiều cách làm sáng tạo và thiết thực; sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị trong nông nghiệp ngày càng phát triển; kinh tế hợp tác, chuỗi liên kết trong sản xuất và khai thác chế biến thủy sản trên biển là xu thế phát triển.

Bên cạnh những thuận lợi cũng gặp không ít khó khăn, thách thức: Tình hình thế giới, khu vực diễn biến khó lường, các thế lực thù địch tiếp tục chống phá; bảo vệ chủ quyền biển, đảo, biến đổi khí hậu, dịch bệnh tiếp tục diễn biến phức tạp. Tệ quan liêu tham nhũng, lãng phí chưa được ngăn chặn đẩy lùi, khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng, hạn hán thường xuyên, kéo dài, biến đổi khí hậu và nước biển dâng là thách thức gay gắt đối với nước ta nói chung, tỉnh ta nói riêng. Hội nhập kinh tế thế giới ngày càng sâu rộng đã tác động đến sản xuất và tiêu dùng của đại bộ phận nông dân.

Trong 5 năm tới kinh tế nước ta nói chung và tỉnh ta nói riêng vẫn còn những khó khăn thách thức; nhiều vấn đề xã hội bức xúc ở nông thôn cần phải giải quyết như: Ô nhiễm môi trường nông thôn, tệ nạn xã hội gia tăng, an ninh trật tự trên địa bàn nông thôn có nhiều diễn biến phức tạp. Sản phẩm nông nghiệp do sản xuất nhỏ, phân tán và chất lượng sản phẩm thấp, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường, tiếp tục bị cạnh tranh rất lớn. Trình độ sản xuất còn thấp, mới chỉ tạo được số lượng nhiều nhưng giá trị thấp; hiệu quả sử dụng đất đai chưa cao.

Quá trình tích tụ ruộng đất và đô thị hóa nông thôn và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lực lượng nông dân ngày càng giảm về số lượng, chất lượng chưa được nâng lên. Một bộ phận nông dân thiếu đất sản xuất, thiếu việc làm cùng với ảnh hưởng của thiên tai hạn hán, bão lụt, dịch bệnh…làm cho sự phân hóa giàu nghèo diễn ra ngày càng mạnh hơn, tác động xấu đến tâm lý của một bộ phận người dân và nảy sinh nhiều vấn đề xã hội nông thôn.

Tình hình trên đặt ra những cơ hội và thách thức cho sự phát triển nông nghiệp, nông thôn; giai cấp Nông dân Việt Nam và tổ chức Hội Nông dân các cấp trong tỉnh phải chủ động vươn lên ngang tầm với nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu mới của thực tiễn đặt ra; nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị, trình độ sản xuất, quản lý và ý thức trách nhiệm của cán bộ Hội với nhiệm vụ công tác Hội và phong trào nông dân; phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới gắn với giảm nghèo bền vững; nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho HVND.

A- PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIEU

I- Phương hướng chung

Quán triệt quan điểm của Nghị quyết Đại hội XII của Đảng; Nghị quyết 26 Hội nghị lần thứ 7 BCH.TW (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn  và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng bộ tỉnh; Trong giai đoạn cách mạng mới, Đảng ta đã khẳng định nhất quán quan điểm, mục tiêu, chính sách đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn; xác định rõ vị trí, vai trò, nhiệm vụ của giai cấp nông dân và Hội Nông dân Việt Nam.

 Vận động Nông dân phát huy tinh thần đoàn kết, thi đua thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ công tác Hội và phong trào nông dân gắn với nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của địa phương; đầu tư phát triển sản xuất hàng hóa, mở rộng quy mô sản xuất, nhân rộng mô hình sản xuất hiệu quả, ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ mới; nông nghiệp 4.0 vào sản xuất, tập trung vào khâu giống cây trồng, vật nuôi, phương pháp canh tác hiện đại với tỷ lệ cơ giới hóa cao, để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu thị trường. Phối hợp triển khai thực hiện có hiệu quả các chương trình, đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững; Vận động nông dân thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với từng vùng, từng bước hình thành vùng sản xuất hàng hóa qui mô lớn gắn với chế biến; đầu tư kết cấu hạ tầng nông thôn, tham gia thực hiện có hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới gắn với chương trình giảm nghèo bền vững; đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế thế giới.

 Phương hướng  hoạt động công tác Hội và phong trào nông dân trong 5 năm tới là: “Đoàn kết - Đổi mới - Hội nhập - Phát triển bền vững”.

 Với vai trò trung tâm và nòng cốt trong các phong trào thi đua yêu nước và công cuộc xây dựng nông thôn mới; đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức hoạt động theo hướng tập hợp, vận động CB.HVND tham gia lao động sản xuất phát triển KT-XH giữ vững quốc phòng an ninh; tăng cường các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ và dạy nghề đáp ứng nhu cầu và lợi ích thiết thực của HVND. Thực hiện có hiệu quả các chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở nông thôn. Nâng cao vai trò trách nhiệm của của Hội Nông dân các cấp trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp Nông dân Việt Nam vững mạnh, có trình độ  sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực, có đủ bản lĩnh chính trị, giữ vai trò chủ thể trong phát triển nông nghiệp, nông thôn.

II- Mục tiêu

1. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động hội viên nông dân thực hiện có hiệu quả các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Nâng cao trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật, nghề nghiệp cho nông dân. Tăng cường mối quan hệ liên minh giai cấp công nhân, giai cấp Nông dân và tầng lớp trí thức để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; xây dựng nông thôn mới.

2. Tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, xây dựng, tổ chức Hội các cấp vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và hành động; làm tốt vai trò đại diện, chăm lo và bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng hợp pháp của nông dân.

3. Tăng cường phối hợp hoạt động ứng dụng và chuyển giao tiến bộ KHKT và nông nghiệp 4.0 cho nông dân, hỗ trợ, giúp đỡ nông dân đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá, có sức cạnh tranh cao trên thị trường. Tăng cường việc tạo vốn, việc làm và đào tạo nghề cho lao động nông thôn góp phần tích cực cho công tác xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm cho nông dân. Tham gia xây dựng nông thôn mới và giữ gìn ổn định chính trị-xã hội trên địa bàn nông thôn.

III- Các chỉ tiêu chủ yếu

Thực hiện phương hướng mục tiêu, trong nhiệm kỳ VIII (2018-2023) công tác Hội và phong trào nông dân phấn đấu đạt được một số chỉ tiêu cơ bản sau:

1. Phấn đấu 100% cán bộ Hội, 95% hội viên nông dân được tuyên truyền quán triệt và học tập các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn và chỉ thị nghị quyết của Hội.

2. Phấn đấu 100% cơ sở Hội và 70% chi hội có “tủ sách Nhà Nông”

3. Phấn đấu 100% số hộ nông dân có hội viên và  phát triển 3.000 hội viên mới/năm;

4. 100% huyện, thành Hội đạt vững mạnh và khá; 100% cơ sở vững mạnh và khá; 75% chi hội đạt vững mạnh và khá, còn lại trung bình, không có yếu kém.

5. 100% cán bộ Hội cấp huyện, thành Hội; 100% cán bộ chuyên trách cấp cơ sở được đào tạo về chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng vận động tập hợp nông dân và đạt chuẩn theo quy định. 100% cán bộ Chi hội cơ sở được bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ công tác Hội.

6. 100% cơ sở Hội vận động quỹ Nông dân bình quân 50.000đ/hội viên/năm;

7. 100% huyện thành Hội có quỹ Hỗ trợ nông dân và Hội nông dân các cấp vận động quỹ Hỗ trợ nông dân tăng trưởng 15%/năm.

8. Hàng năm có từ 75% hộ hội viên đăng ký phấn đấu và có từ 50% hộ đăng ký trở lên đạt danh hiệu sản xuất kinh doanh giỏi các cấp.

9. Hàng năm có 100% hộ hội viên đăng ký phấn đấu và có từ 85% hộ đăng ký trở lên đạt danh hiệu Gia đình văn hóa.

10. Phấn đấu 100% Hội Nông dân cấp huyện, thành Hội; 85% Hội Nông dân cấp cơ sở  tổ chức được dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân có hiệu quả.

11. Phấn đấu 100% Hội Nông dân cấp xã hướng dẫn, tổ chức nông dân xây dựng được ít nhất một mô hình kinh tế tập thể có hiệu quả và 01 mô hình về bảo vê môi trường nông thôn.

12. Hàng năm Hội nông dân tỉnh và các Huyện thành Hội phối hợp tổ chức dạy nghề ngắn hạn cho 1.500 lao động nông thôn; tỷ lệ có việc làm đạt 70% trở lên.

B- NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP

I. Chỉ đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả đề án “nâng cao vai trò, trách nhiện của Hội NDVN trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp NDVN giai đoạn 2010-2020 ” thực hiện có hiệu quả kết luận 61 của Ban Bí thư và kế hoạch 5554 của UBND tỉnh và quyết định 673 của Thủ tướng chính phủ

Chủ động phối hợp với các ban, ngành có liên quan xây dựng chương trình cụ thể để tuyên truyền cho cán bộ, hội viên, nông dân nhận thức sâu sắc về các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, Chỉ thị, Nghị quyết của Hội, nhất là Nghị quyết Trung ương 7 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, về thực hiện chủ trương xây dựng nông thôn mới, Kết luận 61 của Ban Bí thư, Quyết định 673 của Thủ tướng Chính phủ, Kế hoạch 5554 của UBND tỉnh, Kế hoạch 38 của BCH tỉnh Hội về triển khai thực hiện Kết luận 61 của Ban Bí thư, Đề án số 01 của Đảng đoàn Hội NDVN và Chỉ thị số 36 của Tỉnh uỷ về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng đối với hoạt động của Hội nông dân trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn.

Triển khai thực hiện thông báo của Thường trực tỉnh ủy về việc thực hiện kết luận 61 của Ban Bí thư; Tích cực triển khai thực hiện các đề án, dự án được UBND tỉnh giao; khai thác sử dụng hiệu quả Trung Tâm dạy nghề và Hỗ trợ Nông dân góp phần thực hiện chỉ thị 19 của BBT và Quyết định 1956 của TTg chính phủ về đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

Đổi mới nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động Quỹ Hỗ trợ Nông dân; xây dựng các đề án, dự án chủ động phối hợp với các sở ngành; tham gia một số chương trình đề án thực hiện Nghị quyết 26 Hội nghị Trung ương bảy (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, các chương trình phát triển kinh tế của tỉnh và tham gia xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững.

I- Về xây dựng tổ chức Hội

1- Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng.

Tuyên truyền, phổ biến kịp thời các chủ trương, nghị quyết của Đảng; chính sách pháp luật của Nhà nước; giáo dục truyền thống yêu quê hương đất nước và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và tinh thần đoàn kết trong cộng đồng dân cư. Trọng tâm là tuyên truyền phổ biến các chủ trương chính sách, pháp luật về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; về mục tiêu, nội dung của chương trình xây dựng nông thôn mới; về chủ quyền biển đảo của Tổ quốc; các chính sách liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của nông dân và các nghị quyết của Hội đến đông đảo HVND.

 Công tác tuyên truyền, giáo dục phải bám sát thực tiễn, tăng cường đối thoại trực tiếp giữa nông dân với Hội, giữa nông dân với các ngành, các nhà doanh nghiệp, nhà khoa học. Thực hiện lời dạy của Bác Hồ "Phải giáo dục Hội viên, lấy việc thực tế hàng ngày mà dạy cho nông dân làm cho Hội nông dân thành một lực lượng mạnh mẽ để thi hành mọi chính sách của chính phủ" và phải thấu hiểu nhu cầu bức xúc của nông dân, nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, như vậy mới cổ vũ, động viên được nông dân thi đua thực hiện tốt nhiệm vụ, góp phần quan trọng làm cho các phong trào thi đua yêu nước của Hội phát triển cả bề rộng và chiều sâu, nhân rộng được các điển hình tiên tiến và làm xuất hiện nhiều tập thể cá nhân tiêu biểu trong phong trào nông dân. Chú trọng việc tuyên truyền cho nông dân vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu vùng xa; vùng bãi ngang ven biển. Thường xuyên sâu sát trong việc năm bắt tâm tư nguyện vọng những khó khăn, bức xúc của nông dân để phản ánh đề xuất với cấp ủy Đảng, chính quyền có biện pháp xử lý, giải quyết kịp thời.

 Tăng cường công tác giáo dục truyền thống, khơi dậy tình yêu quê hương đất nước; tình làng nghĩa xóm, nếp sống văn minh, ý chí tự lực tự cường vươn lên của HVND, tuyên truyền phổ biến những mô hình sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, những kinh nghiệm hay, cách làm sáng tạo, các gương điển hình tiên tiến; tổ chức các Hội thi tìm hiểu pháp luật; tìm hiểu về lịch sử của Đảng nâng cao ý thức về xây dựng Đảng, chính quyền; tổ chức Hội cùng với toàn Đảng, toàn dân chống mọi âm mưu "Diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch lợi dụng những khó khăn của đồng bào để kích động, lôi kéo làm phương hại đến vai trò  lãnh đạo của Đảng và lợi ích của dân tộc…đồng thời với việc đẩy mạnh việc thực hiện chỉ thị 03 của BCT về việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; thực hiện cuộc vận động “Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam”…

Tiếp tục đổi mới nâng cao chất lượng tuyên truyền giáo dục; Đa dạng hóa các hình thức thông tin tuyên truyền; bám sát thực tiễn, khai thác có hiệu quả bản tin và Website của Hội để chuyển tải đến nông dân những chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước; chỉ thị nghị quyết của Hội và định hướng hoạt động công tác hội và phong trào nông dân. Đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, thể thao nhằm nâng cao sức khoẻ, thể chất và tinh thần cho nông dân. Xây dựng giai cấp nông dân vừa có truyền thống dân tộc vừa có tính hiện đại, có ý thức về cội nguồn và lòng tự hào dân tộc, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

2- Công tác xây dựng, củng cố tổ chức Hội.

Tiếp tục xây dựng củng cố tổ chức Hội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và hành động. Bằng nhiều phương pháp vận động tập hợp đông đảo lực lượng nông dân vào tổ chức Hội, nâng cao chất lượng hội viên, thường xuyên củng cố tổ chức và tăng cường hoạt động Hội là nền tảng xây dựng cơ sở Hội vững mạnh. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ Hội có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức cách mạng, trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới; có tác phong dân chủ, làm tốt vai trò đại diện, sâu sát cơ sở, lắng nghe ý kiến của nông dân, vận động tập hợp nông dân thi đua hoàn thành tốt nhiệm vụ công tác Hội và các phong trào nông dân trong tình hình mới;

Có kế hoạch sắp xếp bố trí đội ngũ cán bộ hiện có và chuẩn bị đội ngũ kế cận  nhằm bổ sung điều chỉnh quy hoạch, luân chuyển cán bộ gắn với công tác đào tạo, bồi dưỡng và bố trí cán bộ phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ công tác. Cán bộ chủ chốt ở các cấp Hội phải hội đủ các tiêu chuẩn tham gia cấp ủy, chịu khó nghiên cứu học tập nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng công tác, kịp thời khắc phục những hạn chế yếu kém. Tổ chức 01 đến 2 lớp trung cấp xã hội học chuyên ngành công tác Hội Nông dân; cử cán bộ chuyên trách các cấp đi học các lớp trung cao cấp lý luận chính trị, đại học chuyên môn. Đến năm 2023, có 100% cán bộ chuyên trách xã, 100% cán bộ chuyên trách của huyện, tỉnh đạt trình độ chuẩn hóa theo quy định.

3- Công tác kiểm tra, giám sát.

Tiếp tục củng cố kiện toàn Ban kiểm tra Hội Nông dân các cấp, đảm bảo đủ số lượng và chất lượng; thường xuyên bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, tăng cường hiệu quả hoạt động cho đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra để đủ sức tham mưu và tổ chức thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra theo điều lệ Hội quy định nhằm giữ vững kỷ cương, kỷ luật.

Nâng cao nhận thức cho cán bộ, hội viên nông dân trong việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, phát huy quyền làm chủ của nông dân, tham gia giám sát việc thực hiện các chủ trương của Đảng chính sách pháp luật của nhà nước có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của nông dân. Tạo điều kiện cho cán bộ hội viên nông dân tiếp tục tham gia giám sát các chương trình dự án đầu tư phát triển kinh tế xã hội ở địa phương nhằm nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế và các chỉ thị Nghị quyết của Hội.

4- Công tác nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn.

Ban chấp hành Hội Nông dân các cấp từ tỉnh đến cơ sở luôn tích cực chủ động đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, hướng về cơ sở, gần gũi với HVND và địa bàn nông thôn từng bước đáp ứng ngày càng tốt hơn quyền và lợi ích chính đáng của HVND. Tuyên truyền vận động tập hợp nông dân vào tổ chức Hội đi đôi với đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ, tư vấn dạy nghề, hỗ trợ HVND phát triển sản xuất, nâng cao đời sống.

Các cấp Hội cần bám sát chủ trương nghị quyết Đại hội của Đảng bộ địa phương, tranh thủ sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự ủng hộ và hỗ trợ của chính quyền, chủ động phối hợp với các ban ngành đoàn thể tạo cơ chế, chính sách và nguồn lực cho công tác Hội và phong trào nông dân. Công tác chỉ đạo điều hành luôn được đổi mới và hướng về cơ sở, giải quyết kịp thời nhu cầu thiết thực của HVND. Tiếp tục xây dựng quy trình quản lý nhãn hiệu tập thể Tỏi Phan Rang nhằm nâng giá trị nông sản của địa phương.

Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình hành động của tỉnh ủy về việc triển khai  thực hiện  Nghị quyết 26 BCH TW 7 khóa X về “nông nghiệp, nông dân, nông thôn” và  kế hoạch số 03 của BCH Hội nông dân tỉnh. Kết luận số 61 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Quyết định số 673 của Thủ tướng Chính phủ, Nghị quyết số 02 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XII, Kế hoạch số 5554 của Ủy ban nhân dân tỉnh; Đề án số 01 của Đảng đoàn TW Hội NDVN về “Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân Việt Nam trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp Nông dân Việt Nam giai đoạn 2010 -2020”.

5- Công tác Thi đua – Khen thưởng.

Tiếp tục thực hiện Chỉ thị 39 của Bộ Chính trị về đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước. Tổ chức xây dựng các mô hình trên tất cả các lĩnh vực sản xuất, văn hoá và đời sống, quốc phòng an ninh … kịp thời phát hiện các điển hình tiên tiến, các nhân tố tích cực để bồi dưỡng, tổ chức nhân rộng các điển hình tiên tiến, gương người tốt việc tốt để hội viên nông dân học tập và làm theo. Kịp thời biểu dương, khen thưởng những tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc đưa công tác thi đua khen thưởng trở thành động lực thúc đẩy, cổ vũ, động viên các tầng lớp nông dân hăng hái thi đua yêu nước nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của tổ chức Hội và nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của Tỉnh nhà.

6- Công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế.

Tăng cường các hoạt động đối ngoại, tranh thủ sự ủng hộ của các tổ chức kinh tế ngoài nước, nhằm tạo nguồn vốn và khoa học kỹ thuật giúp nông dân phát triển sản xuất, xây dựng mối quan hệ ngoại giao nhân dân từng bước nâng cao vị thế của tổ chức Hội và phong trào nông dân.

Tham mưu cho cấp uỷ chính quyền, tạo sự ủng hộ việc triển khai đề án đưa nông dân tham quan học tập trong và ngoài nước. Tranh thủ các dự án từ Ban Quốc tế Trung ương Hội NDVN tạo sự chuyển biến trong hoạt động đối ngoại của các cấp Hội.

II- Vai trò, trách nhiệm của Hội trong phát triển nông nghiệp

1- Phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững.

Thực hiện cuộc vận động “toàn dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, từng nhà làm giàu cho mình, cho cộng đồng và cho đất nước" (Theo NQ TW 5 Khóa IX). Với mục tiêu tăng hộ giàu, giảm hộ nghèo, không còn hộ đói. Các cấp Hội động viên, hướng dẫn hội viên nông dân phát huy nội lực, khai thác tiềm năng đất đai, sử dụng vốn có hiệu quả, tiếp thu và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ sinh học, chuyển đổi cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái từng vùng. Bảo đảm năng suất đi đôi với chất lượng sản phẩm, có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và xuất khẩu. Tham gia xây dựng kinh tế hợp tác, Hợp tác xã để hỗ trợ kinh tế hộ phát triển bền vững, hạn chế sử dụng hóa chất độc hại, bảo đảm nông sản, thực phẩm sạch vệ sinh môi trường.

Vận động hội viên nông dân hưởng ứng và thực hiện chủ trương “dồn điền, đổi thửa”, tham gia xây dựng các mô hình sản xuất “cánh đồng mẫu lớn” từ 10-20 Ha trở lên, góp phần tạo ra vùng sản xuất hàng hóa tập trung; gắn với xây dựng thương hiệu sản phẩm…Hình thành các CLB Nông dân sản xuất KDG và các hộ này giúp các hộ nghèo về kiến thức, vốn, kinh nghiệm sản xuất có hiệu quả, góp phần tạo điều kiện cho các hộ nghèo vươn lên thoát nghèo bền vững.

Làm tốt công tác chuyển giao khoa học kỹ thuật và các dịch vụ hỗ trợ nông dân…đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ sinh học vào sản xuất. Vận động nông dân và phối hợp với các đơn vị liên quan thực hiện có hiệu quả Quyết định 80 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng.

2- Tổ chức hỗ trợ, tư vấn giúp nông dân phát triển sản xuất.

Tiếp tục triển khai thực hiện các dự án khoa học cấp huyện như dự án “Xây dựng mô hình trồng rau măng tây theo hướng VietGAP”, xây dựng nhãn hiệu tập thể “Tỏi Phan Rang” nhằm giúp nông dân có qui trình sản xuất của các đối tượng cây trồng, vật nuôi mới và tiêu thụ sản phẩm. Phối hợp với Trường cao đẳng nghề triển khai dự án “ sử dụng điện thoại vào tưới nước tiết kiệm cho cây trồng” ở vùng khô hạn.

Tiếp tục thực hiện chương trình liên tịch với Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT, Ngân hàng Chính sách Xã hội tín chấp cho hội viên Nông dân vay vốn phát triển sản xuất; tăng cường công tác kiểm tra giám sát của tổ chức Hội đối với các  tổ tín chấp vay vốn, đảm bảo tỷ lệ thu lãi định kỳ đạt trên 95%. Các huyện, thành Hội thực hiện nhận uỷ thác cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách đáp ứng kịp thời vốn sản xuất cho nông dân mở rộng qui mô, tăng giá trị trên một đơn vị diện tích sản xuất, tạo điều kiện cho phong trào thi đua sản xuất kinh doanh giỏi đi vào chiều sâu.

 Động viên khuyến khích phát triển mô hình kinh tế trang trại, gia trại, mô hình kinh tế tập thể, hợp tác xã, khôi phục, phát triển ngành nghề truyền thống, phát triển và mở mang nghề mới theo nhu cầu của thị trường nhằm giải quyết việc làm tại chỗ tăng thu nhập cải thiện đời sống nông dân. Tăng cường hơn nữa công tác đào tạo nghề cho nông dân, hướng đến mục tiêu những nghề nông dân cần, theo phương thức tại chỗ, cụ thể (cầm tay chỉ việc), thời gian đào tạo phải phù hợp với từng nghề. Vận động nông dân sản xuất kinh doanh giỏi và các thành phần kinh tế giúp đỡ nông dân nghèo về kiến thức khoa học, công cụ sản xuất, vật tư nông nghiệp, tiền vốn phát triển kinh tế để thoát nghèo bền vững. Xây dựng dự án giảm nghèo và nâng cao chương trình đào tạo ngành nghề cho nông dân và lao động nông thôn.

Chú trọng xây dựng và phát triển quỹ Hỗ trợ nông dân theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Hội (khoá IV). Tăng cường phát triển nguồn vốn, nâng cao hiệu quả và công tác quản lý, điều hành quỹ. Hình thành quỹ Hỗ trợ nông dân ở 2 cấp, phấn đấu mỗi năm quỹ tăng trưởng 20-25%. Trên cơ sở tăng thì phải vận động cán bộ, hội viên nông dân đóng góp, các tổ chức, cá nhân tài trợ; tổ chức sản xuất, các hoạt động dịch vụ thông qua hỗ trợ vốn, vật tư nông nghiệp… Để tổ chức xây dựng quỹ Hội phấn đấu đạt 100%, các huyện thành Hội đều có quỹ Hỗ trợ nông dân. Tiếp tục hoàn thiện nơi làm việc của Hội Nông dân các cấp,  quan tâm xây dựng cơ sở vật chất, tăng cường trang thiết bị làm việc cho cán bộ Hội. Khai thác, hoạt động có hiệu quả Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân.

Tổ chức phối hợp xây dựng và triển khai thực hiện các đề án: Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động Quỹ hỗ trợ nông dân”; “Tổ chức dạy nghề và hỗ trợ nông dân đến năm 2020”; “Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ Hội Nông dân giai đoạn 2010 -2020”; “ Nâng cao năng lực truyền thông của Hội Nông dân tỉnh trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn”; “Nghiên cứu đề xuất và tổ chức thực hiện chiến lược hành động của Hội tham gia xây dựng mẫu hình: Người nông dân thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn”.

Nâng cao hiệu quả hoạt động của của công tác kiểm tra, phát huy hiệu quả hoạt động của Câu lạc bộ nông dân với pháp luật, hình thành trung tâm trợ giúp pháp lý trực thuộc Hội nông dân nhằm Tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý cho hội viên nông dân.

3- Vận động, hướng dẫn nông dân tham gia phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp.

Hội phối hợp thực hiện các dự án: “Hội Nông dân tham gia bảo vệ môi trường nông thôn”; “Xây dựng và nhân rộng mô hình xóa đói giảm nghèo bền vững”; “Xây dựng và nhân rộng mô hình hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản”; “Tổ chức các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư”; “Hội Nông dân Ninh Thuận tham gia xây dựng và phát triển văn hóa, thể thao và du lịch nông thôn”.

4- Xây dựng, phát triển các mô hình kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn

Phối hợp với tổ chức phi chính phủ IFAP (Ban quốc tế TW Hội NDVN) tham gia chuỗi giá trị nhằm tạo vốn và tiêu thụ sản phẩm cho nông dân; Tiếp tục phối hợp hoạt động với dự án IFAD của tỉnh giai đoạn 2 nhằm duy trì và phát triển các tổ hợp tác và xây dựng hợp tác xã gắn với các chuỗi giá trị.

III- Vai trò trách nhiệm của Hội trong xây dựng nông thôn mới

1- Tham gia thực hiện chương trình, mục tiêu xây dựng quốc gia xây dựng nông thôn mới

Các cấp Hội tích cực vận động hội viên và nông dân tham gia xây dựng nông thôn mới, xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn tạo điều kiện cho giao thương giúp nông dân có điều kiện tiếp thu nền văn hoá tiên tiến, kiến thức khoa học kỹ thuật công nghệ mới. Xây dựng thuỷ lợi, kênh mương nội đồng phục vụ phát triển sản xuất tăng thu nhập, nâng cao đời sống của nông dân. Xây dựng trường học, trạm y tế đảm bảo điều kiện học hành, khám chữa bệnh…và xây dựng nông thôn mới.

Vận động nông dân tích cực tham gia cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư ”, thực hiện nếp sống mới trong việc cưới hỏi, ma chay, xây dựng thôn, khu phố không có người mắc các tệ nạn xã hội; xây dựng nếp sống văn hóa, tôn trọng đạo lý, tình làng, nghĩa xóm. Vận động nông dân làm tốt công tác giữ gìn vệ sinh môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm.

Từng cơ sở Hội, Chi hội, hộ gia đình Nông dân phải có đăng ký chỉ tiêu thi đua cụ thể về xây dựng Nông thôn mới; hàng năm được phân loại đánh giá có tuyên dương, khen thưởng, tập thể, cá nhân có thành tích xây dựng Nông thôn mới.

Tổ chức và tham gia thực hiện theo một số nhóm tiêu chí trong nội dung Chương trình xây dựng nông thôn mới, phấn đấu đạt trên 100% chỉ tiêu trong 19 tiêu chí về xây dựng nông thôn mới như tham gia xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội, tiêu chí kinh tế và tổ chức sản xuất, văn hóa - xã hội, bảo vệ môi trường nông thôn, và góp phần xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh.

- Tuyên truyền sâu rộng trong hội viên, nông dân về Chương trình xây dựng nông thôn mới và Bộ tiêu chí quốc gia xây dựng nông thôn mới.

Hàng năm thông qua hoạt động tuyên truyền và hội thi Nhà nông đua tài nhằn tuyên truyền sâu rộng tới cán bộ Hội viên nông dân về bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới

- Tuyên truyền vận động nông dân đóng góp đất, ngày công, tiền… xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn.

- Các cấp Hội vận động nông dân tích cực tham gia bảo vệ môi trường nông thôn và ứng phó với biến đổi khí hậu, mỗi cơ sở Hội xây dựng một mô hình nông dân tham gia bảo vệ môi trường nông thôn.

2- Tham gia thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh

Quán triệt 2 nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Các cấp Hội giáo dục động viên từng gia đình và con em nông dân thực hiện tốt luật nghĩa vụ quân sự, chính sách hậu phương quân đội. Đẩy mạnh các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn, nâng cao trách nhiệm của Hội trong việc chăm lo đời sống các gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình có công với Cách mạng, vận động nông dân xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, phụng dưỡng bà mẹ Việt Nam Anh Hùng, giúp đỡ người tàn tật, người già neo đơn. Kiên quyết đấu tranh đập tan mọi âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch.

Phối hợp thực hiện tốt chương trình toàn dân tham gia phòng chống tội phạm. Xây dựng lực lượng cốt cán, tổ nông dân tự quản giữ gìn an ninh trật tự thôn xóm. Vận động nông dân tố giác tội phạm, kịp thời ngăn chặn và đẩy lùi các tệ nạn xã hội. Phối hợp với các cơ quan chức năng giải quyết các mâu thuẫn trong nội bộ nông dân không để xảy ra vụ việc đột xuất bất ngờ, góp phần giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội.

- Phối hợp với Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh, Bộ đội biên phòng tỉnh, Công an tỉnh đổi mới nội dung phương thức hoạt động thực hiện có hiệu quả các chương trình phối hợp bảo đảm an ninh trật tự, xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận ANND, xây dựng các tổ đội đoàn kết sản xuất trên biển ở các xã ven biển góp phần bảo về biển đảo của Tổ quốc. Tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho hội viên, nông dân tham gia phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc; vận động con, em nông dân thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự phấn đấu đạt chỉ tiêu giao quan hàng năm, không có thanh niên con em nông dân chống khám chống lệnh...

- Hàng năm nhân các ngày lễ ngày kỷ niệm trọng đại của đất nước các cấp Hội tăng cường công tác tuyên truyền vận động cán bộ hội viên nông dân than gia  hoạt động “đền ơn đáp nghĩa”, thực hiện chính sách hậu phương quân đội.

3- Thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”; bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu

Tiếp tục thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” mỗi cơ sở hội đăng ký triển khai thực hiện một công trình hoặc đảm nhận một công trình tại địa phương góp phần thực hiện cuộc vận động xây dựng  nông thôn mới; tham gia xây dựng mô hình nông dân tự quản bảo vệ môi trường nông thôn; vận động nông dân chuyển đổi sản xuất thích ứng với biến đổi khí hậu.

IV- Vai trò, trách nhiệm của Hội với xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam vững mạnh

1- Xây dựng người nông dân thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Tổ chức phối hợp xây dựng và triển khai thực hiện các đề án: “Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ Hội Nông dân giai đoạn 2010 -2020”; “ Nâng cao năng lực truyền thông của Hội Nông dân tỉnh trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn”; “Nghiên cứu đề xuất và tổ chức thực hiện chiến lược hành động của Hội tham gia xây dựng mẫu hình: Người nông dân thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Thể hiện rõ phẩm chất yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, toàn tâm toàn ý đi theo con đường cách mạng Việt Nam mà đảng , Bác Hồ đã lựa chọn, lấy tư tưởng “đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công đại thành công” của Chủ tịch Hồ Chí Minh làm tư tưởng chủ đạo trong mọi hành động. Có kiến thức KHKT trong sản xuất bảo đảm trình độ tiến tiến ngang bằng với các nước trong khu vực. Hiểu biết về pháp luật và thực hiện “sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật”. Biết sản xuất hàng hoá, có thu nhập cao và giúp đõ các nông dân cùng ổn định cuộc sông.

2- Tổ chức dạy nghề và giới thiệu việc làm cho nông dân. Tiếp tục hoàn thiện nơi làm việc của Hội Nông dân các cấp,  quan tâm xây dựng cơ sở vật chất, tăng cường trang thiết bị làm việc cho cán bộ Hội. Khai thác, hoạt động có hiệu quả Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân.

Tổ chức phối hợp xây dựng và triển khai thực hiện đề án: “Tổ chức dạy nghề và hỗ trợ nông dân đến năm 2020”; “Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ Hội Nông dân giai đoạn 2010 -2020”; “ Nâng cao năng lực truyền thông của Hội Nông dân tỉnh trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn”; “Nghiên cứu đề xuất và tổ chức thực hiện chiến lược hành động của Hội tham gia xây dựng mẫu hình: Người nông dân thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn”.

3- Hỗ trợ nông dân khởi nghiệp.

Động viên khuyến khích phát triển mô hình kinh tế trang trại, gia trại, mô hình kinh tế tập thể, hợp tác xã, khôi phục, phát triển ngành nghề truyền thống, phát triển và mở mang nghề mới theo nhu cầu của thị trường nhằm giải quyết việc làm tại chỗ tăng thu nhập cải thiện đời sống nông dân. Tăng cường hơn nữa công tác đào tạo nghề cho nông dân, hướng đến mục tiêu những nghề nông dân cần, theo phương thức tại chỗ, cụ thể (cầm tay chỉ việc), thời gian đào tạo phải phù hợp với từng nghề. Vận động nông dân sản xuất kinh doanh giỏi và các thành phần kinh tế giúp đỡ nông dân nghèo về kiến thức khoa học, công cụ sản xuất, vật tư nông nghiệp, tiền vốn phát triển kinh tế để thoát nghèo bền vững. Xây dựng dự án giảm nghèo và nâng cao chương trình đào tạo ngành nghề cho nông dân và lao động nông thôn.

Hội phối hợp thực hiện các dự án: “Hội Nông dân tham gia bảo vệ môi trường nông thôn”; “Xây dựng và nhân rộng mô hình xóa đói giảm nghèo bền vững”; “Xây dựng và nhân rộng mô hình hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản”; “Tổ chức các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư”; “Hội Nông dân tham gia xây dựng và phát triển văn hóa, thể thao và du lịch nông thôn”.

4- Tham gia xây dựng, giám sát, phản biện cơ chế, chính sách liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Thực hiện việc tham gia giám sát và phản biện xã hội theo quy định của đảng, tổ chức nắm bắt và phản ánh kịp thời tâm tư, nguyện vọng chính đáng của Nông dân. Hàng năm Hội chủ động và phối hợp tham mưu xây dựng kế hoạch tham gia  giám sát phản biện chính sách liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Tiếp tục thực hiện chương trình phối hợp giám sát giữa Hội Nông dân, UBMTTQVN, sở công thương và sở NN&PTNT về sản xuất và kinh doanh phân bón kém chất lượng, nhằm bảo vệ quyền lợi chánh đáng cho người nông dân.

5- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nông dân.

Các cấp hội làm tốt công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức, ý thức của nông dân chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; các chỉ thị nghị quyết của Hội; tăng cường công tác cơ sở kịp thời nắm bắt tình hình khó khăn, bức xúc trong nông nghiệp, nông dân, nông thôn để kiến nghị, tháo gỡ khó khăn cho nông dân.

Định kỳ hàng quý tổ chức hội nghị đối thoại với nông dân để nắm bắt và phản ánh, đề xuất kịp thời tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nông dân.

Củng cố các tổ hoà giải và hoàn thiện trung tâm trợ giúp pháp lý Nông dân  trực thuộc Hội Nông dân để có cơ sở pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nông dân.

6- Giải quyết khiếu nại, tố cáo, hòa giải

Thường xuyên chủ động phối hợp với các ngành chức năng tiếp tục thực hiện Chỉ thị 26 của Thủ tướng Chính phủ về tạo điều kiện cho Hội Nông dân các cấp tham gia giải quyết khiếu nại tố cáo của nông dân Quyết định số 81/2014/QĐ-TTg, ngày 31/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường phối hợp với Hội Nông dân các cấp để giải quyết khiếu nại tố cáo. Củng cố, duy trì và hướng dẫn nội dung sinh hoạt của các CLB Nông dân với Pháp luật.

V- Tham gia xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh và khối đại đoàn kết dân tộc

Phát huy vai trò thành viên trong khối đại đoàn kết toàn dân, Hội luôn củng cố và nâng cao lòng tin của hội viên nông dân vào sự lãnh đạo của Đảng từ đó nâng cao ý thức xây dựng và bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền. Tổ chức Hội phải xứng đáng là cơ quan đại diện cho tiếng nói của nông dân. Vận động hướng dẫn HVND thực hiện các quy định về góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Tích cực tham gia phòng chống tham nhũng, lãng phí. Thường xuyên bồi dưỡng những cán bộ hội viên Nông dân ưu tú giới thiệu cho Đảng xem xét kết nạp. Phối hợp với Mặt trận TQVN tham gia hiệp thương giới thiệu nhân sự tham gia cơ quan lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Thực hiện có hiệu quả Chỉ thị 59; kết luận 61 của Bộ Chính trị; Quyết định 17; Quyết định 673 của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định 38 và Kế hoạch 5554 của UBND tỉnh. Hội Nông dân các cấp thường xuyên nắm chắc tình hình nông nghiệp, nông thôn; tâm tư nguyện vọng và kiến nghị chính đáng của Nông dân trong quá trình tham gia thực hiện các chủ trương chính sách; chủ động và có chính kiến trong việc tham mưu đề xuất các chính sách liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn; các chương trình đề án phát triển KT-XH ở nông thôn, xây dựng nông thôn mới.

 Vận động nông dân sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Tham gia xây dựng chính sách và góp ý kiến vào các dự thảo luật, thực hiện quy chế dân chủ cơ sở. Phối hợp với chính quyền các cấp giải quyết các vấn đề liên quan đến đời sống, quyền và lợi ích chính đáng hợp pháp của nông dân. Tạo điều kiện để nông dân tham gia thực hiện quy định của Đảng về công tác giám sát và phản biện xã hội; giám sát việc thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và những  chính sách liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của nông dân.

- Tham gia phản biện theo Quyết định 218-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị nhằm kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của hội viên nông dân, góp phần xây dựng cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới.

Phấn khởi và tự hào với những kết quả đã đạt được trong nhiệm kỳ qua chúng ta tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh và sự phối hợp tạo điều kiện của các cấp chính quyền, của các sở ban, ngành và đoàn thể trong tỉnh và sự nỗ lực vươn lên của CBHVND trong tỉnh. Hoạt động công tác Hội và phong trào nông dân trong nhiệm kỳ VIII (2018-2023) sẽ đạt được những thành quả to đẹp hơn, góp phần cùng với toàn Đảng, toàn quân, toàn dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, Nghị quyết Đại hội Tỉnh Đảng bộ lần thứ XIII; Nghị quyết Đại hội Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VII và Nghị quyết BCH Hội Nông dân tỉnh khoá VIII (2018-2023).

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

BAN CHẤP HÀNH HỘI NÔNG DÂN TỈNH NINH THUẬN

---------

Thái Bá Hòa
Văn phòng-HND tỉnh
 Về đầu trang Bản in Trang chủ
Lịch công tác
HomThuNong
Thư điện tử
Danh bạ thư điện tử
VB QPPL
TTHC

Thăm dò ý kiến

Đánh giá của bạn về Trang thông tin Hội Nông Dân?


Bình chọn Kết quả
Loading Đang tải dữ liệu...
Đóng
Giao lưu trực tuyến
Lấy ý kiến

Liên kết các sở, ban, ngành

footer 10-10-2012
Skip to main content